Người Việt mình trọng khoa bảng, chắc phần nào ảnh hưởng từ văn hóa Hán. Cho tới thời này mà mấy nước thuộc nhánh Khổng giáo như Trung Quốc, Nhật, Hàn, Việt Nam, chuyện thi cử vẫn cứ là điều quan trọng trong đời người, nhất là thi vào đại học. Thi cử bây giờ để kiếm chỗ học lấy một cái nghề; còn là con đường thoát khỏi đời sống nghèo khổ, thay đổi đời … nhưng cái được chú ý nhất vẫn là suy nghĩ đỗ đạt là danh giá, là mở mày mở mặt. Chả thế mà ở nông thôn tới giờ đỗ đại học vẫn mừng rỡ ăn khao; còn ở thành phố thì mùa thi nào xong bố mẹ kẻ đỗ cũng hân hoan khoe khắp nơi là con tôi đã đỗ.

Ngẫm lại cái thi vào đại học nó cũng đại khái như một phiên bản khác của thi hương, thi hội, thi đình từ thời các cụ. Tâm thế này tới từ cái thời phong kiến xa xưa, khi “một người làm quan cả họ được nhờ”, khi người đỗ đạt còn rất ít, khi dân đen đúng là chỉ là đám dân đen không biết chữ, nên mới sinh ra câu “nhất tự vi sư bán tự vi sư” (giờ dạy cả đống thứ mà còn chưa dám xưng là thầy thiên hạ). Hàm tiến sĩ được coi trọng thế chắc cũng nhờ danh vọng của hai từ tiến sĩ trong Văn Miếu mà ra.

Muốn biết đời xưa kẻ đỗ đạt được trọng vọng như thế nào thì mời đọc “Lều chõng”.

Muốn biết cảnh thi cử đời xưa nó vật vã khốn khổ thế nào với sĩ tử, cũng mời đọc “Lều chõng”.

Phải cảm ơn cụ Ngô Tất Tố, nhờ có cụ thì chúng ta mới có thể biết cái cảnh thi cử ngày xưa nó thế nào. Đầu tiên là cảnh nhân vật chính đi kiếm chỗ đóng lều để thi:

“Những chỗ gần nhà Thập dạo đã bị những người vào trước chiếm hết. Chàng toan đem lều ra đóng ở phía ngoài cùng. Nhưng khổ quá, cái khu đất ấy, lúc nãy còn là một cõi biên thùy bỏ hoang, các ông vào trước đem bã văn chương tuôn cả ra đó, mùi theo ngọn gió đưa ra ngạt ngào, không thể nào mà chịu cho nổi. Chàng lại lếch thếch vác lều chõng đi lùng khắp các miếng đất phía trong.”

Không biết sao thời đó nhà nước không thu xếp nổi một khu trường thi có sẵn bàn ghế cho thí sinh, để đến nỗi cảnh các nhà nho phải lếch thếch đóng lều như cái lều vịt bây giờ, rồi nằm bò ra viết cả ngày trời khổ ải, ấy thế mà chữ còn phải đẹp.

Rồi trong khi thi cử, đám kẻ sĩ nho gia ngày đó không chỉ phải rèn Tứ thư Ngũ kinh, mà còn phải nhớ vô số thứ lề luật kiêng cữ để tránh bị “phạm húy”; nhân vật chính chỉ vì dùng sai có hai từ mà đã bị đàn hặc lên vua, bị bắt bỏ tù mấy hôm và cách tuột cả vị trí thủ khoa. Thành công khi thi cử không phải chỉ là biết viết văn hay chữ tốt hay ý tứ thông minh, mà còn ở chỗ biết cúi đầu theo niêm luật. Con người bay bổng, sắc sảo, tự do như nhân vật chính Đào Vân Hạc, thì bị mất ngôi thủ khoa năm đầu chỉ vì “còn trẻ quá, cho trượt để rèn giũa tính tình” (!)

“Vân Hạc thấy hai anh khóc, chàng bỗng nghĩ đến sự kỳ vọng của những người thân thích ruột rà và bụng bảo dạ: “Lúc mình bước chân ra đi, nào mẹ, nào vợ, nào cha mẹ vợ, nào chú bác họ hàng, người này giúp năm quan, người kia giúp ba quan, ai cũng mong cho mình đỗ. Cả đến cụ Năm, đã đương nằm kề miệng lỗ, nghe tin cháu vào phúc hạch cũng còn sai người đến đây hỏi xem ngày nào xướng danh để ra chơi mừng. Bây giờ mình hỏng, làm cho biết bao nhiêu người thất vọng!

Hiện nay mẹ mình, chú mình và ông nhạc bà nhạc của mình đều đã vất vưởng như đèn trước gió, không biết các cụ có còn sống được đến ngày mình đỗ hay không?” Thế rồi chàng cứ nức nức nở nở, trong họng như bị nghẹn ngào, chén rượu bưng lên lại phải đặt xuống, không tài nào mà nhắp đi được.”

Tâm sự của Đào Vân Hạc gần 100 năm sau vẫn cứ là tâm sự của hầu hết sĩ tử đua tranh vào kỳ thi đại học bây giờ. Học cho ai, thi cho ai? Nhân vật chính không thích đua tranh thi cử, anh ta tài hoa nức tiếng nhưng hết lần này tới lần nọ vật vã đi thi, thậm chí trèo đèo lội suối vào Huế thi đình, suýt mất mạng – chỉ vì muốn làm đẹp lòng vợ, làm vừa lòng mẹ, làm mở mày mở mặt người thầy dạy, mang vinh dự về cho xóm làng – chứ chẳng có chút nào vì mong muốn bản thân cả. Đào Vân Hạc lúc nào cũng áy náy: “Tội nghiệp, đàn bà cũng thích công danh đến vậy? Khoa này nếu mình hỏng nữa, thì phụ lòng vợ biết chừng nào?”

Tất cả cái đám thân nhân ấy, chỉ nhìn thấy cái ngợp mắt của cảnh “võng anh đi trước võng nàng theo sau”, vinh quy về làng, được danh được vọng, mà không nhìn thấy được cái khổ ải chán chường của việc thi cử, học hành cứng nhắc chỉ để không “phạm trường quy”; còn chưa nói tới cảnh tàn nhẫn tranh đấu lẫn nhau ở chốn quan trường.

Ấy vậy mà, cả trăm năm sau, cảnh đau lòng khổ sở vì thi cử năm nào cũng tái diễn, năm nào cũng có thí sinh tự tử vì hỏng thi và bị bố mẹ dằn vặt.

“Lều chõng”, đọc lại vẫn thấy quá thời sự!

 

Bình luận

comments