«Đối với Phật tử Ấn Độ, luân hồi là ách vận cần phải được ngăn ngừa. Ngược lại, với người Trung Quốc, ý tưởng có được cơ hội thứ hai nếm lại cuộc đời xem ra vô cùng quý hóa. Một nhân sinh quan như thế là căn gốc của phong cốt đời Đường: mỗi khoảnh khắc trong dòng thời gian đều xứng đáng được ca tụng. Mỗi khoảnh khắc trong đời chính là cuộc đời. Chính những khoảnh khắc và hành động trong khoảnh khắc đó kết thành sự sống.

(“Trà Kinh” – Lục Vũ)

Không biết Nguyễn Tuân có đọc Trà Kinh của vị Trà thánh xứ Tàu không, nhưng văn chương của ông thì nhất mực đi theo cái triết lý đó. Nên biết rằng Lục Vũ vốn là người tu theo Đạo gia. Đọc văn Nguyễn Tuân, ta cũng thấy đầy ắp cái chất thoát tục của Đạo gia, cũng giống hình ảnh nhà văn phơ phất mái tóc bạc như một đạo sĩ đi thong dong qua cuộc đời này, nhìn vạn sự trong đời sống với cái nhìn thưởng thức sự phong phú muôn màu muôn vẻ của sự sống, không phán xét cũng chẳng ngợi khen, chỉ đơn giản như khách chơi lãng du qua đường không vướng bận.

Mà nói vậy, chơi kiểu của Nguyễn Tuân cũng là kiểu chơi rất đạo sĩ. Ông từng bị chỉ trích vì “tội” đã “nâng tầm nghệ thuật” trong cả việc chém người một cách rất chi là “thưởng thức”, thậm chí còn tả tới mức độ tinh tế, coi mạng người như thể cây chuối. Nhưng từ góc nhìn của người tu đạo, khi “Đạo được coi là có mặt ở mọi nơi, từ vũ trụ bao la tới mảnh sành mảnh chĩnh” – thì thân xác con người và thân xác cây chuối có khác gì nhau?.

“Vang bóng một thời” là cuốn thể hiện rõ nhất phong thái Đạo gia của nhà văn.

“Vang bóng một thời” là cuốn sách vô tiền khoáng hậu ở Việt Nam ta – nhất là ở cái thời Nho giáo thống trị, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc, con người mở miệng là nói nhân nghĩa đạo đức, từ bi – mà nhà văn lại dám miêu tả những thứ vốn bị coi là “tàn bạo” như việc chém người của đao phủ (“Chém treo ngành”); kỹ năng dùng “hàng nguội” của dân trộm cướp (“Ném bút chì”); hay mượn thơ ca như một cách cờ bạc kiếm ăn (“Thả thơ”) – với một giọng điệu thưởng thức khoái hoạt và tỉnh như không như vậy.

“Tiếng lưỡi mai ở tay Lý Văn phóng ra kêu đánh vụt. Một tiếng gà kêu oác.

Cả bọn chạy ra luống khoai, giơ cao con gà gẫy mất hai chân. Vết thương gọn gàng vừa đúng quãng đầu gối và cặp giò chưa lìa hẳn, vẫn còn dính vào đùi bởi lần da hoen máu.

Lý Văn gác mai, nói với tất cả bọn:

– Nếu mình ném mạnh tay quá và không biết tính sức đi của ” bút chì ” là nát mất gà. Các chú không phải đánh những ” tiếng bạc ” vào sinh ra tử, các chú không biết, chứ đòn ” bút chì ” khó khiến lắm. Để hôm nào rảnh, anh sẽ dạy cho các chú tập đánh cái lối đòn bơi chèo bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến ấy thì đầu người rụng cứ như sung”

(“Ném bút chì”)

Ấy vậy mà người đọc vẫn không thấy phản cảm. Dường như tâm người viết đã đạt được cảnh giới tự do tự tại, và điều đó soi chiếu vào trong văn ông, cũng tự do tự tại khỏi mọi phán xét đời thường. Có thể cũng vì trong “Vang bóng một thời” còn có nhiều câu chuyện duyên dáng khác, hợp với tâm trạng thương nhớ, hoài niệm những thú chơi tao nhã cũ của giới nhà nho vào cái thời nho học bắt đầu suy tàn. Đối với cái kiểu tiếc thương hoài cổ này, nhà văn không giấu giếm sự giễu cợt kèm thương cảm nhẹ nhàng đằng sau những dòng văn chương lịch lãm.

Ừ, món kẹo mạch nha hấp trong hương lan, thưởng thức vào tiết trời sương giá, nghe thật tao nhã, nhưng nói cho cùng nó cũng chỉ là viên đá cuội bọc đường, phủ thêm chút hương hoa cho có vẻ quý phái (“Hương cuội”); hay như tâm quá bám chấp vào trà của một ông già, (“Những cái ấm đất”), thậm chí còn biến trà thành ra một thứ “thần thánh”, ngẫm ra cũng đáng thương.

“Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ Äm đã để vào đấy bao nhiêu công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi, nếu trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhận thấy một chút mùi thơ và một tị triết lý và tâm lý…

(“Chén trà trong sương sớm”)

Nguyễn Tuân từng bị coi là “vị nghệ thuật” một cách quá đáng, viết “bất chấp đạo đức”. Thật ra, nhà văn chỉ là viết lại một cách văn hoa và tao nhã câu nói lừng danh của Lão Tử: “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu” (“Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm” – Đạo Đức Kinh)

Đúng vậy, đất trời cũng như bậc thánh nhân đại giác ngộ, có cái Đạo riêng của mình, sống vô vi, không tư vị thiên vị bất cứ ai, bất cứ điều gì. Vì thế, mà đối với đất trời, với lẽ biến dịch, chẳng có ai, có điều gì được coi trọng, đúng thời thì sinh, nghịch thời thì diệt. Cái bất nhân của trời đất lại là cái Nhân rộng lớn sinh ra vạn vật, che chở vạn vật, quân bình vạn vật, là lòng vô tư không thiên vị, “không vì kẻ rét mà dẹp mùa Đông”.

Bình luận

comments