Tiết trời cuối thu, một cơn mưa đêm rả rích đổ xuống, thế là sáng dậy trời trở lạnh, gió bấc lào xào thổi qua tán cây. Mùa đông xứ Bắc đến lúc nào cũng lạ như thế, chẳng bao giờ cho một dấu hiệu gì cụ thể. 

“Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo trước. Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng, và làm ròn khô những chiếc lá rơi. Sơn và chị chơi cỏ gà ở ngoài cánh đồng còn thấy nóng bức, chảy mồ hôi.

Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em bé vẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.

Nhìn ra ngoài sân, Sơn thấy đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Trời không u ám, toàn một màu trắng đục. Những cây lan trong chậu, lá rung động và hình như sắc lại vì rét…”

(Gió lạnh đầu mùa – Thạch Lam) 

Những ngày cuối thu đầu đông này, mưa thu đưa gió đông về, hương hoa sữa, hoàng lan nồng nàn khắp nơi, thật là thời điểm lý tưởng để đọc lại “Gió đầu mùa” của Thạch Lam. 

“Gió đầu mùa”, đúng như cái tên của nó, là một tập hợp những đoản văn trong trẻo như pha lê, miêu tả những mảnh đời nho nhỏ cũng mong manh dễ vỡ như pha lê. Với độc giả ở độ tuổi ngũ thập, đã từng trải qua một chút khung cảnh thời xa xưa ấy, thời văn hóa xứ Bắc kỳ vẫn còn một chút dư âm hương vị pha trộn giữa Nho giáo cũ kỹ và Tây học mới mẻ, thì đọc lại “Gió đầu mùa” thực sự giống như bắt chuyến tàu về quá khứ, nơi mọi thứ đều được lọc qua một lớp màu nostalgia hoài cổ. 

Câu chữ của Thạch Lam là loại câu chữ thanh thanh nhè nhẹ, đọc văn ông, ta dễ có cảm tưởng như đang đi dạo nơi phố huyện trong một buổi chiều thu muộn. Không có gì là quá đậm đà, cũng chẳng quá nhạt vị, nó đơn giản chỉ như một bát tào phớ thoang thoảng hương nhài. Ấy thế nhưng cái vị nhàn nhạt ấy cũng có sức quyến rũ với người lữ khách đã mệt mỏi với những cuốn sách nặng đầu, với những chủ đề đầy “tính chiến đấu”, như thể sau bữa tiệc sơn hào hải vị, lại được nếm bát canh cua mồng tơi ăn với cà pháo muối xổi.

“Thanh lách cánh cửa gỗ để khép, nhẹ nhàng bước vào. Chàng thấy mát hẳn cả người; trên con đường lát gạch bát tràng rêu phủ, những vòng ánh sáng lọt qua vòm cây xuống nhẩy múa theo chiều gió. Một mùi lá tươi non phảng phất trong không khí. Thanh rút khăn lau mồ hôi trên trán – bên ngoài trời nắng gắt – rồi thong thả đi bên bức tường hoa thấp chạy thẳng đến đầu nhà. Yên tĩnh quá, không một tiếng động nhỏ trong căn vườn, tựa như bao nhiêu sự ồn ào ở ngoài kia đều ngừng lại trên bậc cửa”.

(Dưới bóng hoàng lan) 

Cũng như văn, những mảnh đời trong “Gió đầu mùa” thường là những mảnh đời cũng nhàn nhạt như thế. Từ thân phận đàn bà thời xưa trong “Cô hàng xén” sớm tối loanh quanh với phiên chợ nghèo; cam chịu cuộc đời bị hành hạ trong “Hai lần chết”, “Một đời người” … cho tới những mẫu hình nam giới cũng thấp kém, hèn mạt dần đi trong sự tối tăm của một kiếp người như “Đói”, “Kẻ bại trận”… 

Hầu như toàn bộ không khí trong “Gió đầu mùa” là như vậy. Đọc từng trang, từng trang, đều toát lên không khí uể oải, cũ kỹ, buồn rầu và chán nản …như thể chúng ta đang nhìn vào một thế giới ngưng đọng, không có nhiều hành động gì khác lạ, mỗi con người đều đang cố uể oải diễn cho hết vai kịch đời của chính mình. 

Thế nhưng, cách viết, cách dùng từ của tác giả lại phủ lên toàn bộ tấn trò đời nhạt nhẽo này một lớp “lọc” ánh sáng trong mờ, khiến cho sự buồn rầu ấy đột nhiên lại mang một màu sắc ý vị, nên thơ, khiến cho người đọc thấy lòng mình chùng lại. 

Ừ, với đa số người Việt, ai chẳng đến từ một miền quê, từ một căn nhà tranh hay nhà ngói nép dưới bóng cây, nơi mùa đông rét mướt gió lùa qua khe cửa, lớn lên chân trần chạy loanh quanh trong phố thị heo hút, đều đã quá quen thuộc với cảnh “buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị” (Hai đứa trẻ)

Có phải vì vậy mà “Gió đầu mùa” đã sống lâu hơn rất nhiều so với hàng trăm cuốn văn chương cùng thời đó? 

Có phải vì nó luôn gợi cho người Việt, dẫu ở thị thành vẫn không dứt hẳn được khỏi cái tâm thức hơi rầu rầu “thương nhớ đồng quê” rất đặc trưng của người tới từ làng quê – một chút hồi tưởng êm đềm về quá vãng? 

 

Bình luận

comments